Báo cáo Việc thực hiện pháp luật tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo (Thời kỳ từ ngày 01/01/2015 đến 31/12/2021)

28/04/2022

Căn cứ yêu cầu của Đoàn Kiểm tra của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường Vĩnh Phúc (TN&MT) ban hành báo cáo số 112/BC-STNMT ngày 26/4/2022 về kết quả thực hiện pháp luật công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo (thời kỳ từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2021) cụ thể như sau:

PHẦN I

TÌNH HÌNH BAN HÀNH CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT

VỀ TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

I. Việc ban hành các văn bản về tiếp công dân và giải quyết KNTC

1. Tình hình quán triệt văn bản của Đảng về tiếp công dân, giải quyết KNTC

Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; Quy định số 11-QĐ/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị “V trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong công tác tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân”. Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết KNTC; Nghị quyết số 113/2015/NQ-QH ngày 27/11/2025 của Quốc hội về tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội khóa XIII về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn; Luật Tiếp công dân năm 2013; Luật Khiếu nại năm 2011; Luật Tố cáo năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Thực hiện Thông tri số 28-TTr/TU ngày 27/8/2014 của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong việc thực hiện Chỉ thị  số 35-CT/TW của Bộ Chính trị; Quy định số 55-QĐ/TU ngày 03/02/2016 của Tỉnh ủy Ban hành Quy chế đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy Đảng các cấp với nhân dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Văn bản số 2974-CV/TU ngày 11/4/2019 của Tỉnh ủy về việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Quy định số 11-QĐ/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.

Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến kịp thời, đầy đủ đến toàn thể công chức, viên chức và người lao động trong toàn Sở TN&MT các quy định pháp luật về tiếp công dân (TCD) như: Luật Tiếp công dân số 42/2013/QH13, Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân; Thông tư số 06/2014/TT-TTCP 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình tiếp công dân, Thông tư số 04/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định về quy trình tiếp công dân (có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2021 và thay thế Thông tư số 06/2014/TT-TTCP 31/10/2014)…; các quy định pháp luật về tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (KN, TC, KNPA) như: Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố cáo 2011, Luật Tố cáo 2018, Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo; Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 09/10/2020 của Chính phủ quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại, Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, đơn phản ánh, Thông tư số 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, đơn phản ánh (có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2021 và thay thế Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014). Thông qua công tác tuyên truyền đội ngũ công chức, viên chức và người lao động đã từng bước nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ TCD, giải quyết KNTC.

2. Việc ban hành văn bản chỉ đạo điều hành về công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC

Số văn bản chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện đã ban hành: 13 Văn bản. Các văn bản ban hành của Sở TN&MT luôn đảm bảo cụ thể hóa đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác TCD, giải quyết KNTC, KNPA; phù hợp các quy định pháp luật TCD và giải quyết KNTC; đồng bộ, thống nhất với văn bản chỉ đạo của cấp trên; đảm bảo tính cấp thiết, kịp thời của văn bản.

II. Đánh giá về ưu điểm, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

1. Ưu điểm:

Ban Giám đốc Sở nhận rõ tính chất, tầm quan trong trong việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết KNTC nên đã hết sức quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường vai trò, trách nhiệm, đồng thời chủ động, kịp thời giải quyết các đơn thư KNTC, kiến nghị, phản ánh do tổ chức, công dân gửi đến.

Công tác phổ biến, quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác tiếp công dân và giải quyết KNTC đã được Ban giám đốc Sở lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kịp thời tới đội ngũ công chức, viên chức, người lao động. Qua đó nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện các quy định về tiếp công dân, giải quyết đơn thư KNTC, kiến nghị, phản ánh.

2. Tồn tại, hạn chế

Trong kỳ báo cáo, Sở TN&MT chủ yếu ban hành các kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các văn bản chỉ đạo, điều hành trong công tác TCD, giải quyết KNTC đối với các phòng QLNN, đơn vị thuộc Sở. Tuy nhiên, việc ban hành các văn bản chỉ đạo còn ít.

3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, trong khi đó hệ thống chính sách, pháp luật còn có bất cập, thường xuyên thay đổi nhất là chính sách pháp luật về đất đai như: bồi thường, GPMB khi thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Một số vụ việc khiếu kiện có nội dung phức tạp, xảy ra từ lâu, quy định của pháp luật đã có nhiều thay đổi đặc biệt là Luật Đất đai; nội dung đan xen giữa khiếu nại và tố cáo, kiến nghị; giữa nội dung mới với nội dung cũ dẫn đến việc giải quyết gặp nhiều khó khăn; trong khi đó thời hạn giải quyết của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo còn chưa phù hợp với yêu cầu thời gian thực tế phải giải quyết nhất là đối với nhưng vụ việc phức tạp, xảy ra từ lâu, hồ sơ liên quan thất lạc.

 

PHẦN II

KẾT QUẢ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ

TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

I. Tình hình khiếu nại, tố cáo

1. Tình hình khiếu nại, tố cáo

Trong kỳ báo cáo, số lượt công dân trực tiếp đến Sở TN&MT đến để KNTC, KNPA đều biến động tăng, giảm không đều giữa năm sau so với năm trước liền kề. Tuy nhiên, số lượt đơn thư tiếp nhận có chiều hướng tăng sau mỗi năm. Nội dung tiếp công dân, nội dung đơn thư tiếp nhận chủ yếu liên quan tới lĩnh vực đất đai (chiếm trên 98%) như quản lý, sử dụng đất đai, thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… còn lại số ít liên quan đến lĩnh vực môi trường, khoáng sản.

Nguyên nhân do những năm gần đây tốc độ phát triển KT-XH của tỉnh tiếp tục tăng, triển khai nhiều Dự án khu đô thị, thương mại và dịch vụ, Dự án khu, cụm công nghiệp từ đó kéo theo phát triển các hạ tầng giao thông, dịch vụ tại vùng lõi và khu vực xung quanh dẫn đến giá đất thực tế giao dịch tăng cao hơn rất nhiều so với giá bồi thường, GPMB theo khung giá đất Nhà nước quy định; đồng thời do dân số tăng nhanh, trình độ dân trí của người dân ngày một nâng cao cùng với việc tham gia của Luật sư trong quá trình KNTC nên công dân khiếu kiện để đòi quyền lợi nhất là việc cùng một nội dung nhưng công dân đến và gửi đơn tới nhiều cấp, nhiều ngành và nhiều lần để KNTC, KNPA.

Các vụ việc KNTC, KNPA đã được các cấp, các ngành trong đó có Sở TN&MT xem xét, giải quyết; kiểm tra, rà soát nhiều lần nhưng cho thấy không phát sinh tình tiết mới, cơ quan thẩm quyền đã ra văn bản trả lời hoặc quyết định, kết luận giải quyết theo quy định. Quá trình giải quyết đã vận dụng cơ chế chính sách, pháp luật và quan tâm đến lợi ích chính đáng của người dân. Tuy nhiên, có vụ việc công dân không thỏa mãn theo nguyện vọng, tiếp tục gửi đơn hoặc trực tiếp đến Sở TN&MT để KNTC và có thái độ, lời nói không đúng chuẩn mực, gây mất trật tự tại nơi tiếp công dân. Bên cạnh đó, còn một số đơn thư KNTC gửi theo dạng đơn mạo danh, nặc danh, gửi đơn đến cơ quan không có thẩm quyền giải quyết hoặc nội dung đơn không có cơ sở pháp luật…

Trong kỳ báo cáo, Sở TN&MT có 02 vụ việc kéo dài chưa giải quyết xong là vụ việc của một số công dân Làng Tấm, xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên đề nghị cấp GCNQSD đất; vụ việc của ông Hoàng Anh Tuấn ở phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên đề nghị Sở TN&MT chỉ đạo Văn phòng đăng ký đất đai Chinh nhánh Tam Dương chuyển thông tin địa chính sang Chi cục thuế huyện Tam Dương để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định đối với thửa đất số 174, tờ bản đồ số 19 của gia đình tại thôn Cẩm Trạch, xã Đạo Tú đã được UBND huyện Tam Dương cho phép chuyển mục đích sử dụng từ trồng cây lâu năm sang đất ở.

2. Nguyên nhân phát sinh KNTC

2.1. Nguyên nhân khách quan

- Nội dung các vụ việc chủ yếu liên quan đến tồn tại sai phạm trong quản lý sử dụng đất đai, như: Thu hồi, bồi thường GPMB, giao đất ở, tranh chấp đất đai, Cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất, công nhận QSD đất...; các vụ việc phát sinh từ lâu, kéo dài nhiều năm, qua các thời kỳ, hồ sơ tài liệu lưu trữ không đầy đủ, đây là những vụ việc khó giải quyết. Bên cạnh đó, văn bản pháp luật về đất đai có sự điều chỉnh, bổ sung qua các thời kỳ. Nhiều vụ việc quá trình giải quyết do vướng mắc trong áp dụng pháp luật nên chưa giải quyết được như các vụ việc liên quan đến giao đất ở, thu tiền trái thẩm quyền, không đúng đối tượng...

- Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về KNTC của người dân còn có mặt hạn chế, một số trường hợp lợi dụng quyền dân chủ, việc lưu trữ hồ sơ không đầy đủ của cơ quan nhà nước nhất là những vụ việc khó giải quyết đã cố tình không hợp tác với cơ quan giải quyết, dẫn đến tình trạng một số vụ việc đã được các cấp các ngành xem xét giải quyết đúng pháp luật, tổ chức kiểm tra, rà soát, đối thoại nhiều lần nhưng công dân chưa nhất trí, đưa ra những đòi hỏi không có căn cứ và vượt quá quy định của pháp luật hoặc một số vụ việc xuất phát từ việc công dân đề nghị giải quyết TTHC, giải quyết khiếu nại nhưng không đạt được mục đích cá nhân đã quay sang tố cáo, gây tâm lý không tốt cho người giải quyết và người tham gia giải quyết.

2.2. Nguyên nhân chủ quan

Quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH ở một số nơi còn có các tồn tại, hạn chế, vi phạm; công tác tuyên truyền, vận động, giải thích thuyết phục chưa được quan tâm, chú trọng; việc thực hiện công khai dân chủ trước và trong khi triển khai thực hiện các dự án chưa được chú trọng, thực hiện nghiêm túc; việc thực hiện các quy định về chính sách, pháp luật của chính quyền nhất là cấp xã, của một số cán bộ, công chức có việc chưa đảm bảo đầy đủ, đúng quy định như: Liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thường giải GPMB, tái định cư, khai thác tài nguyên khoáng sản; việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường… làm ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt, kinh tế, tư liệu sản xuất, công ăn việc làm của người dân, gây bức xúc, phát sinh khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh trong nhân dân. Công tác quản lý đất đai qua các thời kỳ ở một số nơi còn bị buông lỏng, thiếu chặt chẽ, tình trạng vi phạm pháp luật đất đai, như: Thu tiền, giao đất ở trái thẩm quyền, lấn, chiếm đất, huỷ hoại đất, sử dụng đất không đúng mục đích chưa được giải quyết, xử lý triệt để gây tâm lý coi thường, xem nhẹ pháp luật ở một số người dân.

Công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm giải quyết KNTC đối với người đứng đầu và người tham gia giải quyết KNTC còn ít; các cuộc thanh tra đột xuất đối với những địa phương có nhiều đơn KNTC, KNPA, vụ việc tồn đọng, đông người, phức tạp để từ đó kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm còn chưa nhiều.

Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác TCD, giải quyết KNTC còn ít, thường xuyên có sự biến động, thay đổi về nhân sự; năng lực, trình độ của một số cán bộ, công chức làm công tác TCD; việc tham mưu giải quyết, áp dụng pháp luật giải quyết KNTC còn hạn chế; việc xử lý đơn thư chất lượng chưa cao, việc ghi chép sổ tiếp công dân chưa đầy đủ.

II. KT QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

1. Kết quả tiếp công dân

1.1. Tiếp công dân

Tổng số lượt đã tiếp/số vụ việc: 900 lượt công dân với 1.050 người. Trong đó,

- Tiếp công dân thường xuyên của Thanh tra Sở: 862 lượt;

- Lãnh đạo Sở trực tiếp TCD: 28 lượt;

- Số ngày Lãnh đạo Sở TCD định kỳ theo quy định (vào ngày 10 và 20 hàng tháng/năm): 144 ngày, trong đó Giám đốc sở trực TCD là 72 ngày, còn lại ủy quyền cho cấp phó 72 ngày. Lịch TCD được ban hành dưới dạng Thông báo và được công bố, nhiêm yết công khai tại phòng TCD của Sở TN&MT.

- Nội dung KNTC:

+ Về khiếu nại, kiến nghị: Nội dung khiếu nại, kiến nghị chủ yếu liên quan đến đất đai, thủ tục hành chính về cấp GCQSD đất chiếm tỷ lệ trên 98%;

+ Về nội dung tố cáo, phản ánh: Tố cáo, phản ánh cán bộ cơ sở vi phạm các quy định về quản lý sử dụng đất đai, không thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ nhà nước giao; tố cáo trong nội bộ nhân dân như: việc lấn, chiếm, sử dụng đất không đúng mục đích, tỷ lệ trên 98%.

1.2. Số đông người/ số vụ việc phức tạp, kéo dài; số vụ việc lợi dụng khiếu nại, tố cáo gây rối làm mất an ninh trật tự

- Tổng số đoàn đông người: 09;

- Số vụ việc phức tạp kéo dài: 02;

- Số vụ việc lợi dụng khiếu nại, tố cáo gây rối làm mất trật tự an ninh: 0.

1.3. Việc bố trí công chức tiếp công dân, số lượng và tỷ lệ công chức được đào tạo chuyên ngành luật; việc bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng cho công chức làm công tác này:

Sở TN&MT giao Thanh tra Sở thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân thường xuyên tại phòng TCD của Sở và trực TCD định kỳ, đột xuất cùng Lãnh đạo Sở. Lực lượng Thanh tra Sở tính đến thời điểm báo cáo gồm 10 người, trong đó có 03 người có chuyên môn Luật (chiếm tỷ lệ 30%).

Đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân của Thanh tra Sở được tập huấn thường xuyên về kỹ năng, quy định pháp luật và hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về tiếp công dân.

Trong một số trường hợp, Luật sư tham gia vào hoạt động TCD với vai trò là người đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giúp người dân hiểu và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình đúng trình tự, thủ tục quy định pháp luật quy định; đồng thời trong hoạt động tiếp công dân, Luật sư lắng nghe cán bộ TCD để hướng dẫn, giải thích giúp người dân hiểu và chấp hành pháp luật, tránh phát sinh đơn thư nhiều lần, cùng nội dung, khiếu kiện vượt cấp.

2. Kết quả tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo

2.1. Tiếp nhận khiếu nại, tố cáo

Tổng số đơn tiếp nhận (cả tiếp nhận qua tiếp công dân): 1.308 đơn trong kỳ báo cáo (kỳ trước chuyển sang 0 đơn);

Phân loại đơn: Theo loại đơn: khiếu nại 163 đơn; tố cáo 164 đơn; kiến nghị, phán ánh 981 đơn. Theo lĩnh vực hành chính: 1308 đơn; tư pháp 0 đơn. Theo điều kiện xử lý: đơn đủ điều kiện 1001 đơn; không đủ điều kiện 307 đơn. Theo thẩm quyền: đơn thuộc thẩm quyền 591 đơn; đơn không thuộc thẩm quyền 410 đơn.

2.2. Kết quả giải quyết khiếu nại

Số đơn khiếu nại tiếp nhận: 163 đơn;

- Chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết: 101 đơn;

- Xếp lưu đơn (không đủ điều kiện xử lý do đơn gửi đến nhiều nơi trong đó có nơi đúng thẩm quyền giải quyết, đơn không rõ tên và địa chỉ người gửi): 42 đơn.

- Số vụ việc thụ lý theo thẩm quyền: 20 đơn. Tuy nhiên, qua rà soát cụ thể các hồ sơ tài liệu và làm việc với công dân cho thấy bản chất nội dung đơn là KNPA, do đó Sở đã thực hiện giải quyết đơn theo KNPA.

- Thẩm quyền giải quyết: Số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết: 0; số đơn đã giải quyết hết thẩm quyền: 0.

- Số vụ việc đã giải quyết: 0.

- Phân tích vụ việc giải quyết: số vụ việc công dân khiếu nại đúng: 0; số vụ việc công dân khiếu nại đúng một phần: 0; số vụ việc công dân khiếu nại sai toàn bộ: 0; số vụ việc giải quyết lần 2 đã hủy, sửa quyết định giải quyết lần đầu: 0.

- Kết quả giải quyết khiếu nại: tài sản đã thu hồi được cho Nhà nước và cho công dân: 0; xử lý trách nhiệm: 0.

- Số vụ việc đang giải quyết: 0; chưa giải quyết: 0;

- Số vụ việc khiếu nại phức tạp kéo dài, đông người: 0;

- Về tổ chức đối thoại với công dân khi giải quyết KN lần đầu, lần hai: 0.

- Kết quả tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực: 0.

- Số vụ việc đã có quyết định giải quyết khiếu nại (lần l, lần 2) nhưng công dân không đồng ý, đã khởi kiện vụ án hành chính và kết quả giải quyết của cơ quan Tòa án: 0.

- Số vụ việc đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần 2, nhưng công dân không khởi kiện vụ án hành chính, tiếp tục khiếu nại: 0.

- Số khiếu nại đã giải quyết hết thẩm quyền nhưng có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ xem xét lại: 0; những vụ việc giải quyết hết thẩm quyền, đã rà soát giải quyết và thông báo chấm dứt thụ lý nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại: 0.

2.3. Kết quả giải quyết tố cáo

Số đơn tố cáo tiếp nhận: 164 đơn.

- Xếp lưu đơn (không đủ điều kiện xử lý do đơn gửi đến nhiều nơi trong đó có nơi đúng thẩm quyền giải quyết, đơn không rõ tên và địa chỉ người gửi): 80 đơn.

- Chuyển cơ quan có thẩm quyền: 72 đơn

- Số vụ việc tố cáo thụ lý và giải quyết: 12 vụ việc. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu, rà soát và tiến hành tổ chức làm việc để đối thoại với công dân để làm rõ nội dung đơn cho thấy bản chất đơn là các phản ánh liên quan chủ yếu đến thời hạn trả kết quả đối với các TTHC về cấp đổi, đăng ký biến động GCNQSD đất, chuyển nhượng QSD đất của công dân tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai các huyện và kiến nghị giải quyết. Do vậy, Sở TN&MT đã tiến hành giải quyết theo đơn KNPA và có văn bản trả lời, giải quyết cho công dân theo quy định.

- Số vụ việc đã giải quyết: 0 vụ việc;

- số vụ việc đang giải quyết: 0; chưa giải quyết: 0.

- Số vụ việc từ khiếu nại không được chuyển sang tố cáo người giải quyết khiếu nại: 0;

- Số vụ việc tố cáo được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết do không thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc chuyển cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự do quá trình tiêp nhận, giải quyết thấy có dấu hiệu phạm tội: 80.

- Số vụ việc nhiều người cùng tố cáo về một nội dung: 0; tồn đọng, phức tạp kéo dài: 0.

- Số vụ việc tố cáo được giải quyết theo thẩm quyền: 0, trong đó giải quyết đúng thời hạn: 0 vụ việc, quá thời hạn: 0; số vụ việc công dân tố cáo đúng: 0; số vụ việc công dân tố cáo đúng một phần: 0; số vụ việc công dân TC sai toàn bộ: 0;

- Kết quả giải quyết tố cáo: việc xử lý cán bộ, người bị tố cáo có vi phạm: 0; tài sản đã thu hồi cho nhà nước, cho công dân: 0.

- Kết quả tổ chức thực hiện Kết luận nội dung tố cáo: 0.

- Số tố cáo đã giải quyết hết thẩm quyền nhưng có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ xem xét lại: 0; những vụ việc giải quyết hết thẩm quyền, đã rà soát giải quyết và thông báo chấm dứt thụ lý nhưng công dân vẫn tiếp tục tố cáo: 0.

 

2.4. Kết quả giải quyết các vụ việc KNTC, KNPA đông người, phức tạp, kéo dài

Thực hiện Quyết định số 1849/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch 363/KH-TTCP ngày 20/3/2019 của Thanh tra Chính phủ; Văn bản: Số 202/TB-VPCP ngày 31/5/2018; Số 12268/VPCP-V.I ngày 18/12/2018 và Quyết định số 1849/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ, thành lập Tổ công tác chỉ đạo, giải quyết một số vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài; Kế hoạch số 363/KH-TTCP ngày 20/3/2019 của Tổng Thanh tra Chính phủ.

Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Quyết định số 456/QĐ-UBND ngày 31/01/2019 về thành lập Tổ công tác chỉ đạo giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (được kiện toàn tại Quyết định số 1379/QĐ-UBND ngày 15/6/2020 và Quyết định số 572/QĐ-UBND ngày 09/3/2021), theo đó: 01 Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Tổ trưởng, Chánh Thanh tra tỉnh và Phó Giám đốc Công an tỉnh làm Tổ phó, thành viên gồm lãnh đạo các cơ quan Ban Nội chính, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, các sở Tư pháp, TN&MT, NN&PTNT, Tài chính, Xây dựng. Tổ công tác có nhiệm vụ xây dựng Kế hoạch kiểm tra, rà soát, đề xuất giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài có tính chất bức xúc, dư luận xã hội quan tâm, có khả năng ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự; chỉ đạo Chủ tịch UBND các huyện, thành phố ban hành kế hoạch kiểm tra, rà soát và tập trung giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp kéo dài thuộc thẩm quyền và trên địa bàn quản lý; trực tiếp kiểm tra và chỉ đạo việc giải quyết một số vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài, nổi cộm xảy ra trên địa bàn tỉnh,…

Tổ công tác ban hành Quyết định số 768/QĐ-TT ngày 12/3/2019 về thành lập Bộ phận giúp việc Tổ công tác chỉ đạo giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài trên địa bàn tỉnh (được kiện toàn tại Quyết định số726/ QĐ-TT ngày 26/3/2021), giúp Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ được giao. Ban hành các Kế hoạch số 30/KH-TCT ngày 12/3/2019; số 18/KH-TCT ngày 05/02/2020; số 64/KH-TCT ngày 23/3/2021 chỉ đạo giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài trên địa bàn tỉnh các năm 2019, 2020, 2021.

Theo tiêu chí xác định vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài tại Kế hoạch số 363/KH-TTCP ngày 20/3/2019 của Thanh tra Chính phủ, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc không có vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giải quyết nhưng trong quá trình thực hiện gặp khó khăn, vướng mắc, công dân vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo.

Tổ Công tác xác định các tiêu chí để lập danh sách các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài trên địa bàn tỉnh để chỉ đạo giải quyết gồm: Vụ việc khiếu nại đã được cơ quan hành chính giải quyết đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại; Vụ việc tố cáo đã được cơ quan hành chính giải quyết đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng công dân vẫn tiếp tục tố cáo; Vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người hoặc đơn lẻ nhưng người khiếu nại, tố cáo có những hành vi quá khích, vi phạm pháp luật hoặc bị kẻ xấu xúi giục, kích động gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và các vụ việc có nguy cơ  hoặc tiềm ẩn nguy cơ phức tạp ảnh hưởng đến tình hình an ninh nông thôn trên địa bàn tỉnh.

Trong kỳ báo cáo, Tổ công tác 456/QĐ-UBND của tỉnh đã chỉ đạo Thanh tra tỉnh, Công an tỉnh, UBND các huyện, thành phố rà soát, sở ngành lập danh sách 108 vụ việc, trong đó Sở TN&MT có 07 vụ việc việc phức tạp, kéo dài.

- Hiện nay, đã có biện pháp giải quyết xong đối với 06/07 vụ việc, còn lại 01/07 vụ việc (một số công dân Làng Tấm, xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên đề nghị cấp GCNQSD đất) đã có văn bản giải quyết nhiều lần nhưng công dân vẫn không đồng thuận, tiếp tục gửi đơn đề nghị giải quyết và Sở TN&MT đang tiếp tục xem xét, có biện pháp giải quyết.

- Ngoài ra còn 01 vụ việc do Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Vĩnh Phúc chuyển đơn đến (trước đó Sở TN&MT cũng đã nhận được đơn do công dân gửi đến) là vụ việc của ông Hoàng Anh Tuấn ở phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên đề nghị Sở TN&MT chỉ đạo Văn phòng đăng ký đất đai Chinh nhánh Tam Dương chuyển thông tin địa chính sang Chi cục thuế huyện Tam Dương để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định đối với thửa đất số 174, tờ bản đồ số 19 của gia đình tại thôn Cẩm Trạch, xã Đạo Tú đã được UBND huyện Tam Dương cho phép chuyển mục đích sử dụng từ trồng cây lâu năm sang đất ở. Sở TN&MT đã tổ chức họp với các cơ quan có thẩm quyền, công dân và đang tiếp tục phối hợp với UBND huyện Tam Dương để có biện pháp giải quyết.

Trong kỳ báo cáo, Sở đã phối hợp với Thanh tra tỉnh, các Sở, ngành có liên quan và UBND các huyện, thành phố giải quyết  nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng, kéo dài đã giải quyết xong hoặc có kế hoạch, lộ trình giải quyết, qua đó đã góp phần giữ vững ổn định tình hình an ninh và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, phục vụ nhiệm vụ phát triển KT-XH ở địa phương.

2.5. Kết quả giải quyết các vụ việc KNTC, KNPA do công dân gửi đến thông qua đường dây nóng của UBND tỉnh và của Sở Tài nguyên và Môi trường

Trong kỳ báo cáo, Sở TN&MT đã tiếp nhận tổng số 101 lượt KNPA, hỏi đáp do công dân, tổ chức gửi đến đường dây nóng của UBND tỉnh Vĩnh Phúc thông qua phần mềm điện tử “Hệ thống tiếp nhận, giải quyết KNPA của tổ chức, cá nhân” (địa chỉ http://duongdaynong.vinhphuc.gov.vn và UBND tỉnh giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối, theo dõi và đôn đốc).

- Nội dung chủ KNPA, hỏi đáp yếu liên quan đến cơ chế, chính sách, pháp luật về đất đai, bảo vệ môi trường và các TTHC liên quan đến cấp GCNQSD đất.

- Sở TN&MT đã tiếp nhận, nghiên cứu và đã phúc đáp kịp thời trên hệ thống phần mềm, không để tồn.

Ngoài ra, Sở TN&MT còn thường xuyên duy trì việc tiếp nhận thông tin KNTC, KNPA của công dân, tổ chức thông qua Cổng thông tin của Sở (website), số điện thoại đường dây nóng của Sở (đặt tại phòng TCD và giao Thanh tra Sở phân công cán bộ, công chức trực, tiếp nhận và xử lý hàng ngày).

- Trong kỳ báo cáo, Sở TN&MT đã tiếp nhận tổng số 09 vụ việc với nội dung phản ánh về lĩnh vực môi trường do rác thải sinh hoạt, do hoạt động của cơ sở sản xuất trong khu dân cư,…

- Sở TN&MT đã kiểm tra, xác minh và có kết quả giải quyết theo thẩm quyền đối với 06 vụ việc; chuyển cơ quan có thẩm quyền 03 vụ việc.

2.6. Kết quả giải quyết các vụ việc KNTC, KNPA do Bí thư tỉnh ủy giao tại các kỳ tiếp dân

Tại các kỳ TCD của Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 4/2019 đến hết tháng 12/2021, Sở TN&MT đã được Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp giao kiểm tra, xác minh giải quyết đối với tổng số 05 vụ việc của công dân và đã có kết quả giải quyết đối với 05 vụ việc.

 

2.7. Kết quả giải quyết các vụ việc KNTC, KNPA do Chủ tịch UBND giao tại các kỳ tiếp dân

Trong kỳ báo cáo, Sở TN&MT đã được Chủ tịch UBND tỉnh giao kiểm tra, xác minh giải quyết đối với tổng số 165 vụ việc. Đã giải quyết 161 vụ việc, còn 04 vụ việc đang tiếp tục giải quyết và chuyển sang kỳ báo cáo năm 2022.

 

2.8. Kết quả giải quyết các vụ việc KNTC, KNPA do UTKT tỉnh ủy, Ban Nội chính Tỉnh ủy chuyển đến

Trong kỳ báo cáo, Sở TN&MT có tổng số 17 vụ việc do Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy và Ban Nội chính Tỉnh ủy chuyển đến, Sở Tài nguyên và Môi trường đã kiểm tra, xác minh và giải quyết đối với tổng số 15 vụ việc, còn 02 vụ việc đang tiếp tục giải quyết.

 

2.9. Kết quả giải quyết các vụ việc KNTC, KNPA do Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chuyển đến

Trong kỳ báo cáo, Sở TN&MT có tổng số 12 vụ việc do Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chuyển đến, Sở Tài nguyên và Môi trường đã kiểm tra, xác minh và giải quyết đối với tổng số 12/12 vụ việc.

 

2.10. Kết quả giải quyết các vụ việc KNTC, KNPA do các cơ quan báo chí phản ánh

Trong kỳ báo cáo, Sở TN&MT có tổng số 06 vụ việc do các các cơ quan báo chí phản ánh trên hệ trang báo, tạp chí điện tử, trong đó đất đai 01 vụ; môi trường 05 vụ.

Sở TN&MT đã tiếp nhận thụ lý, kiểm tra xác minh theo thẩm quyền và đã có kết quả đối với 04 vụ việc; chuyển cơ quan có thẩm quyền 02 vụ.

 

2.11. Kết quả giải quyết các vụ việc KNTC, KNPA do các cơ quan Trung ương chuyển về:

Trong kỳ báo cáo, Sở TN&MT có tổng số 11 vụ việc đều là KNPA do Thanh tra và Tổng cục môi trường - Bộ TN&MT, Thanh tra Bộ Xây dựng chuyển đến, trong đó đất đai 03 vụ; môi trường 07 vụ; khoáng sản 01 vụ.

Sở TN&MT đã tiếp nhận thụ lý, kiểm tra xác minh theo thẩm quyền và đã có kết quả đối với 05 vụ việc; chuyển cơ quan có thẩm quyền 04 vụ.

Các vụ việc liên quan đến lĩnh vực môi trường do Tổng cục môi trường chuyển đến sau khi nhận được thông tin phản ánh trên đường dây nóng của Tổng cục môi trường theo quy định tại Quyết định số 1730/QĐ-TCMT ngày 28/12/2017 của Tổng cục Môi trường ban hành Quy trình tiếp nhận, xác minh, xử lý và phản hồi thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường thống nhất từ trung ương đến địa phương.

 

2.12. Kết quả thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực hiện pháp luật TCD và giải quyết KNTC:

Trong kỳ báo cáo, Sở TN&MT chưa tiến hành thanh tra kiểm tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các đơn vị trực thuộc.

III. NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ

1. Ưu điểm

- Ban Giám đốc Sở nhận rõ tính chất, tầm quan trong trong việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo nên đã hết sức quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường vai trò, trách nhiệm, đòng thời chủ động, kịp thời giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh do tổ chức, công dân gửi đến. (Sở TN&MT đã bố trí riêng phòng tiếp công dân (TCD) và được trang bị đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho công tác TCD theo quy định; có đầy đủ hệ thống sổ sách theo mẫu theo quy định và ghi chép, theo dõi đầy đủ các nội dung công dân kiến nghị, đề nghị, phản ánh, KN, TC. Giao Thanh tra Sở là bộ phận thường trực tiếp công dân, bố trí cán bộ trực TCD thường xuyên. Hàng tháng, Thanh tra Sở có thông báo phân công lịch trực điện thoại đường dây nóng và TCD thường xuyên niêm yết công khai tại phòng TCD của Sở).

- Công tác phổ biến, quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được Ban giám đốc Sở lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kịp thời tới đội ngũ công chức, viên chức, người lao động. Qua đó nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện các quy định về tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

- Công tác TCD được thực hiện đảm bảo theo các quy định: Luật tiếp công dân năm 2013, Nghị định sổ 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân, Thông tư số 06/2014/TT-TTCP 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình tiếp công dân, Thông tư số 04/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định về quy trình tiếp công dân (có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2021 và thay thế Thông tư số 06/2014/TT-TTCP 31/10/2014).

- Công tác tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (KN, TC, KNPA) thông qua TCD cơ bản được thực hiện đảm bảo theo các quy định: Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố cáo 2011, Luật Tố cáo 2018 và cá văn bản hướng dẫn thi hành.

- Thông qua giải quyết đơn thư kiến nghị phản ánh góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

2. Hạn chế, khuyết điểm và nguyên ngân

2.1. Hạn chế, khuyết điểm

- Công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư, xác định nội dung và thẩm quyền giải quyết của cán bộ công chức chưa tốt, đôi khi còn nhầm lẫn giữa đơn khiếu nại, tố cáo với đơn kiến nghị, phản ánh; công tác đánh giá rút kinh nghiệm trong giải quyết các vụ việc công dân gửi đơn khiếu nại, phản ánh chưa thường xuyên.

- Việc ghi chép sổ tiếp công dân của cán bộ chuyên môn còn hạn chế, nhiều buổi Giám đốc Sở trực tiếp công dân thường xuyên nhưng chưa cập nhật vào Sổ tiếp công dân của Sở, việc cập nhận kết quả giải quyết vào sổ tiếp công dân chưa kịp thời, trách nhiệm này thuộc về Thanh tra Sở.

- Chất lượng kiểm tra, xác minh thu nhập tài liệu và việc áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc đôi khi còn cứng nhắc; chưa kết hợp tốt giữa việc giải quyết với kiên trì vận động, giải thích, thuyết phục. Một số vụ việc giải quyết còn kéo dài, chưa đảm bảo tiến độ về thời gian.

- Một số vụ việc thuộc trách nhiệm của cấp huyện, cấp xã nhưng chưa kịp thời chỉ đạo giải quyế dẫn đến công dân có thái độ bức xúc, tiếp tục gửi đơn nhiều hoặc khiếu kiện vợn cấp.

- Việc ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành về công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh còn ít.

2.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

* Nguyên nhân khách quan:

- Công tác QLNN trên một số lĩnh vực còn nhiều tồn tại, yếu kém, nhất là công tác quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên, môi trường, tái định cư dẫn đến các vụ việc có đơn thư chủ yếu liên quan đến tồn tại sai phạm trong quản lý đất đai như: thu hồi, bồi thường GPMB, giao đất ở, công nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...; nhiều vụ việc phát sinh từ lâu, kéo dài nhiều năm, qua các thời kỳ, hồ sơ, tài liệu lưu trữ không đầy đủ, đây là những vụ việc khó giải quyết. Bên cạnh đó, văn bản pháp luật về đất đai có sự sửa đổi, bổ sung qua các thời kỳ, nhiều vụ việc quá trình giải quyết do vướng mắc trong áp dụng pháp luật nên chưa giải quyết được như: Các vụ việc giao đất ở trái thẩm quyền; thu tiền sử dụng đất trái quy định.

- Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo của người dân còn hạn chế, một số trường hợp lợi dụng quyền dân chủ và nắm bắt được những sơ hở trong hệ thống pháp luật của cơ quan Nhà nước... đã cố tình không hợp tác với cơ quan giải quyết dẫn đến tình trạng một số vụ việc đã được các cấp, các ngành xem xét, giải quyết đúng pháp luật, nhưng công dân chưa nhất trí, đưa ra những đòi hỏi không có căn cứ pháp luật quy định. Nhiều vụ việc xuất phát từ việc công dân đề nghị giải quyết thủ tục hành chính nhưng không đạt được mục đích đã chuyển sang khiếu nại, tố cáo gây tâm lý không tốt cho người giải quyết và người tham gia giải quyết.

- Một số nội dung trong Luật Tiếp công dân có những điểm chưa phù hợp với thực tế và với Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật đất đai năm 2013 còn những điểm hạn chế, tồn tại là một trong những nguyên nhân KN, TC.

* Nguyên nhân chủ quan:

- Một số quy định của Luật Đất đai với, Luật Tố tụng hình sự, Luật Điều tra hình sự chưa thống nhất. Quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở một số nơi còn hạn chế, chưa coi trọng công tác tuyên truyền, vận động, giải thích, thuyết phục, công khai dân chủ như: Công tác thu hồi đất, công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư, khai thác tài nguyên khoáng sản, môi trường làm ảnh hưởng đến đời sông sinh hoạt của người dân. Công tác quản lý đất đai qua các thời kì ở một số nơi bị buông lóng, thiếu chặt chẽ, tình trạng vi phạm pháp luật đất đai như: Giao đất trái thẩm quyền, thu tiền sử dụng đất không đúng quy định, sử dụng đất không đúng mục đích, lấn, chiếm đất đai... xử lý chưa kịp thời, triệt để gây bức xúc trong nhân dân, làm phát sinh các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị.

- Công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư, xác định nội dung và thẩm quyền giải quyết của cán bộ công chức chưa tốt, đôi khi còn nhầm lẫn giữa đơn khiếu nại, tố cáo với đơn kiến nghị, phản ánh; công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của Sở đối với các đơn vị trực thuộc về tiếp công dân, giải quyết đơn thư KNTC, KNPA còn hạn chế; công tác đánh giá rút kinh nghiệm trong giải quyết các vụ việc công dân gửi đơn khiếu nại, phản ánh chưa thường xuyên.

- Công tác giải quyết đơn thư là việc khó trong khi đó chất lượng cán bộ làm công tác tham mưu tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết một số vụ việc còn hạn chế, một số cán bộ chưa thực sự sâu sát với vụ việc được giải quyết.

- Việc ghi chép sổ tiếp công dân của cán bộ chuyên môn còn hạn chế, nhiều buổi Giám đốc Sở trực tiếp công dân thường xuyên nhưng chưa cập nhật vào Sổ tiếp công dân của Sở; việc cập nhận kết quả giải quyết vào sổ tiếp công dân chưa kịp thời, trách nhiệm này thuộc về Thanh tra Sở.

- Chất lượng kiểm tra, xác minh thu nhập tài liệu và việc áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc đôi khi còn cứng nhắc; chưa kết hợp tốt giữa việc giải quyết với kiên trì vận động, giải thích, thuyết phục. Một số vụ việc giải quyết còn kéo dài, chưa đảm bảo tiến độ về thời gian

PHẦN III: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ

I. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; Quy định số 11-QĐ/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị “V trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong công tác tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân”. Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết KNTC; Nghị quyết số 113/2015/NQ-QH ngày 27/11/2025 của Quốc hội về tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội khóa XIII về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn; Luật Tiếp công dân năm 2013; Luật Khiếu nại năm 2011; Luật Tố cáo năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Thông tri số 28-TTr/TU ngày 27/8/2014 của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong  việc thực hiện Chỉ thị  số 35-CT/TW của Bộ Chính trị; Quy định số 55-QĐ/TU ngày 03/02/2016 của Tỉnh ủy Ban hành Quy chế đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy Đảng các cấp với nhân dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Văn bản số 2974-CV/TU ngày 11/4/2019 của Tỉnh ủy về việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Quy định số 11-QĐ/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.

2. Tăng cường chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo; nghiêm túc thực hiện tiếp công dân định kỳ và đột xuất, công khai lịch tiếp công dân treeng trang thông tin điện tử của Sở.

3. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện thực tế đối với các vụ việc KNTC thuộc thẩm quyền ngay từ khi mới phát sinh, hạn chế tối đa khiếu nại, tố cáo vượt cấp.

4. Tiếp tục phối hợp với các Sở, ngành, địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 1849/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch số 363/KH-TTCP ngày 20/3/2019 của Thanh tra Chính phủ về tiến hành kiểm tra, rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài trên địa bàn tỉnh.

5. Tiếp tục cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân, xử lý, giải quyết đơn thư.

6. Tiếp tục công khai quy trình thủ tục hành chính đặc biệt các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực đất đai, khoáng sản, môi trường cùng với công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục để quần chúng nhân dân chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, hạn chế việc khiếu nại, tố cáo không đúng quy định.

II. Kiến nghị:

1. Đối với Quốc hội:

- Đề nghị Quốc hội chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, xem xét sửa đổi Luật Tiếp công dân cho phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương sửa đổi, Luật Đất đai nhằm hạn chế tối đa khiếu nại, tố cáo.

- Đề nghị sớm sửa đổi luật Đất đai năm 2013 cho phù hợp với các quy định của Luật Đầu tư, Xây dựng và Bộ luật dân sự.

2. Đề nghị UBND tỉnh:

Chỉ đạo Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, Sở Thông tin truyền thông, Báo Vĩnh Phúc, Đài phát thanh truyền hình tỉnh Vĩnh Phúc tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khiếu nại, tố cáo, Luật đất đai.

3. Đề nghị Thanh tra tỉnh:

Tổ chức các lớp đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo đáp ứng yêu cầu công tác.

 


Sở TN&MT Vĩnh Phúc


Các tin khác
Các tin đã đưa ngày: